MỤC VỤ DI DÂN TẠI CAMPUCHIA – MỘT VÀI NÉT VỀ ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI VÀ NGƯỜI CÔNG GIÁO CAMPUCHIA
———-
1. MỤC VỤ DI DÂN VIỆT NAM TẠI CAMPUCHIATrong mùa Vọng, mùa của chờ đợi trong hy vọng, cha Giuse Nguyễn Văn Quang, đặc trách mục vụ di dân Giáo phận Vinh đã đến thăm anh chị em di dân Việt Nam đang sinh sống, làm việc tại Campuchia, đặc biệt tại vùng biên giới.
Cao điểm của chuyến mục vụ là Thánh Lễ Chúa Nhật III Mùa Vọng, được cử hành vào ngày 14/12/2025 tại nhà nguyện Saint Paul, thành phố Bavet, tỉnh Svay Rieng (Nhà nguyện Saint Paul là một nhà nguyện nhỏ bé, do chính cộng đồng người Việt đóng góp công sức và tài chính để xây dựng, như một “mái nhà thiêng liêng” giữa đời sống bấp bênh của kiếp di dân).
Thánh lễ do Đức cha Pierre Suon Hangly, Giám mục Phó Hạt Đại diện Tông tòa Phnom Penh chủ sự, với sự hiện diện của cha Lay Paul, phụ trách cộng đoàn Phaolô Bavet. Khá đông anh chị em người Việt đã vượt qua những rào cản về công việc, khoảng cách và hoàn cảnh để cùng nhau tham dự Thánh lễ cộng đoàn.
Nhiều anh chị em xúc động chia sẻ: đây là lần đầu tiên họ được xưng tội và tham dự Thánh lễ cộng đoàn kể từ khi sang Campuchia làm việc (vì họ không biết có nhà nguyện hiện diện giữa họ). Trong bầu khí đơn sơ nhưng sốt sắng, Thánh lễ trở thành nguồn an ủi thiêng liêng, giúp họ cảm nhận rằng: Giữa đất khách, họ không bị lãng quên; giữa bấp bênh của đời sống di dân, họ vẫn thuộc về một gia đình – gia đình Hội Thánh.
2. TÌNH HÌNH GIÁO HỘI CÔNG GIÁO TẠI CAMPUCHIA – NHỎ BÉ NHƯNG ĐẦY HY VỌNG
Campuchia là một quốc gia với khoảng 17,5 triệu dân, trong đó người Công giáo chỉ khoảng 21.000 tín hữu, chiếm chừng 0,12% dân số. Đây là một trong những Giáo hội nhỏ bé nhất tại châu Á, nhưng lại mang trong mình một lịch sử đầy đau thương và kiên cường, đặc biệt sau thời kỳ diệt chủng Khmer Đỏ, khi gần như toàn bộ cơ cấu Giáo hội bị xóa sổ.
Hiện nay, Giáo hội Công giáo tại Campuchia được tổ chức thành ba đơn vị truyền giáo (1 Hạt Đại diện Tông tòa và 2 Tiền Tông tòa). Toàn quốc có 2 giám mục đang phục vụ, trong đó Đức cha Pierre Suon Hangly là giám mục bản địa đầu tiên sau hơn 50 năm Giáo hội Campuchia được tái thiết.
Có khoảng 60 linh mục đang thi hành mục vụ, trong đó có 10 linh mục bản địa (theo lời Đức Cha Pierre Suon Hangly) số còn lại là các linh mục truyền giáo đến từ nhiều quốc gia khác nhau. Dù nhân lực hạn chế, nhưng các ngài đang gánh vác một địa bàn rộng lớn, với nhiều cộng đoàn nhỏ, phân tán và đa dạng về văn hóa, ngôn ngữ.
Trong bối cảnh ấy, Giáo hội Campuchia vẫn trung thành với sứ mạng loan báo Tin Mừng bằng đời sống phục vụ, đặc biệt qua các lãnh vực: giáo dục, y tế, bác ái xã hội và mục vụ di dân.3. MỘT VÀI NÉT VỀ NGƯỜI VIỆT KIỀU TẠI CAMPUCHIA
Theo nhiều nguồn ước tính, số người gốc Việt đang sinh sống tại Campuchia dao động từ khoảng 500.000 đến 1 triệu người (số này không chính xác, bởi phần lớn người Việt không được công nhận là công dân Campuchia, không có giấy tờ hợp pháp, không được thống kê đầy đủ trong các cuộc điều tra dân số).
Hệ quả nghiêm trọng nhất rơi vào trẻ em. Nhiều em sinh ra không có giấy khai sinh (theo người dân thì trẻ em Việt kiều không được khai sinh) và không đủ điều kiện vào trường công lập. Trong hoàn cảnh đó, Giáo hội Công giáo tại Campuchia, dù chỉ chiếm khoảng 0,1% dân số lại đang gánh một vai trò xã hội rất lớn, đặc biệt đối với người Việt nghèo. Một trong những sứ vụ nổi bật và âm thầm nhất là giáo dục cho trẻ em Việt kiều. Tại nhiều nơi, Giáo hội đã tổ chức các lớp học tình thương: dạy Tiếng Việt, Tiếng Khmer và vài môn văn hóa cơ bản cho các em. Các lớp học chủ yếu vào buổi tối hoặc cuối tuần.
Đang hiện diện và cộng tác trong sứ vụ này có một số linh mục và tu sĩ Việt Nam được sai đi truyền giáo, và các dòng tu: Mến Thánh Giá, Phaolô, Don Bosco, La San, Thừa sai Thánh Mẫu, Tổ chức Caritas Campuchia và các cộng đoàn Công giáo người Việt tại địa phương.
Tuy nhiên, do điều kiện thiếu thốn về tài chính, nhân sự và pháp lý, phần lớn trẻ em người gốc Việt tại Campuchia chỉ có thể học đến lớp 6, hoặc tốt lắm là lớp 8 nếu tiếp cận được các chương trình của cộng đoàn sở tại, nhà dòng hay tổ chức từ thiện. Chỉ một số ít gia đình có điều kiện mới có thể nhập hộ khẩu nhờ các gia đình người Campuchia để con em được học tiếp trong hệ thống chính quy (Theo lời cha Vy Samnang phụ trách trung tâm Đức Mẹ Mêkông).
4. ĐỨC MẸ MÊ KÔNG – DẤU CHỈ CỦA TÌNH MẪU TỬ GIỮA ĐỜI DI DÂN
Giữa những bấp bênh của đời sống của con cái Campuchia, hình ảnh Đức Mẹ MêKông hiện lên như một dấu chỉ rất gần gũi và đầy an ủi đối với anh chị em người Việt. (Theo Lịch sử Đức Mẹ Mêkông như hình ảnh kèm theo)
Đối với nhiều người Việt tại Campuchia, Đức Mẹ Mêkông không chỉ là một tước hiệu, nhưng là người Mẹ đồng hành, lặng lẽ hiện diện bên họ trong những căn nhà tạm, trên những nhà bè lênh đênh, nơi những khu lao động nghèo và cả trong những nhà nguyện đơn sơ ven biên giới. Mẹ ở đó để lắng nghe tiếng thở dài, lau khô nước mắt, và giữ lửa đức tin cho những tâm hồn đang bị thử thách.
Sự sùng kính Đức Mẹ Mê Kông trở thành nguồn sức mạnh thiêng liêng, giúp anh chị em di dân xác tín rằng Thiên Chúa không bỏ rơi họ, và Giáo hội vẫn ở bên họ. Nơi Mẹ, họ tìm thấy niềm hy vọng cho con cái, động lực để vượt qua nghèo khó, và niềm tin rằng tương lai vẫn có thể được xây dựng, dù khởi đi từ những điều rất nhỏ bé.
Chính trong ánh nhìn hiền mẫu của Đức Mẹ Mêkông, người dân nghèo nơi đây được an ủi, đỡ nâng nhất là qua bàn tay chăm sóc của các vị mục tử, các sơ và các ân nhân cũng như khách hành hương. Sự hiện diện kiên trì và đầy âu yếm của Mẹ đã thắp lên niềm hy vọng rất lớn, nhất là trong năm thánh Hy vọng cho Giáo hội tại Campuchia.
Một vài tìm hiểu qua các cha, các sơ, và người dân Việt Nam sinh sống tại Campuchia cũng như một vài thống kê chưa đầy đủ, có thể chưa thật chính xác, nhưng đây là phác họa đôi nét về tình hình ‘’MỘT VÀI NÉT VỀ ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI VÀ NGƯỜI CÔNG GIÁO CAMPUCHIA’’ liên quan đến người Việt Kiều Campuchia).
Cánh đồng truyền giáo rộng lớn tại Campuchia rất cần nhiều lời cầu nguyện và giúp đỡ của cộng đoàn, nhất là đang chờ các nhà truyền giáo!
Xin Chúa chúc lành và ”sai thợ ra gặt lúa về!” (Mt 9,38)
———–
Lược ghi của Linh mục Giuse Nguyễn Văn Quang
———–
